Vì sao Nhà nước cần phải quy định lương tối thiểu?

76 Lượt xem

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao lại có tiền lương tối thiểu và mức tiền lương tối thiểu này có vai trò gì chưa? Mọi người đi làm thường chỉ quan tâm đến tháng nhận được bao nhiêu tiền lương còn ít người có mối quan tâm về những chính sách và quy định cụ thể ảnh hưởng trực tiếp tới tiền lương của bản thân mình. Vậy lương tối thiểu là gì và vì sao nhà nước cần phải quy định lương tối thiểu? Chúng ta cùng phân tích ở bài viết dưới đây:

Lương tối thiểu là gì?

lương tối thiểu 1

Lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hàng, đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề. 

Ngày nay cũng còn nhiều quan điểm khác nhau về tiền lương tối thiểu. Có quan điểm ủng hộ quy định tiền lương tối thiểu nhưng cũng có quan điểm phản đối. Ngay ở Mỹ, các chính khách thường đòi tăng lương tối thiểu với lý do nhằm để bảo vệ quyền lợi cho công nhân thiếu tay nghề và giới trẻ, nhưng hậu quả ngược lại là hai thành phần này khó kiếm việc làm hơn, do các công ty không muốn trả lương cao cho những loại lao động thiếu tay nghề.

Một thực tế hiện nay các doanh nghiệp ở Việt nam đều trả lương cao hơn nhiều so với mức lương tối thiểu nên họ không sợ vi phạm việc trả lương dưới mức quy định. Nhưng trong khi tổng mức lương không thay đổi mà nghĩa vụ đóng góp (BHXH, BH Ytế) lại tăng lên làm cho thu nhập thực tế có khi giảm đi.

Mặt khác tiền lương thiết yếu là một lượng tiền cần thiết cho một hộ gia đình để tồn tại với những vật dụng sinh hoạt thiết yếu, được hiểu như ngưỡng nghèo. Các đạo luật về tiền lương quốc gia thường gắn lương thiết yếu với lương tối thiểu. Các đạo luật này thường được dựa trên một tập hợp một số loại hàng hóa và vật dụng thiết yếu, thường được đánh giá bằng mức giá cả (chỉ số tiêu dùng), hoặc bằng tỉ lệ lạm phát. Các đạo luật của của quốc gia thường lấy tiền lương tối thiểu làm chuẩn để có những sửa đổi cần thiết để tiền lương có thể theo kịp lạm phát và để khôi phục lại sức mua đã mất của tiền lương.

Tiền lương và các khoản trích theo lương sẽ là nguồn thu nhập chính, thường xuyên của người lao động, đảm bảo tái sản xuất và mở rộng sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh khi công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương được hạch toán hợp lý công bằng chính xác

Có hai loại lương tối thiểu:

- Lương tối thiểu chung: 

Từ ngày 1/5/2016 là 1.210.000 đồng/tháng. Còn từ 1/7/2017 lương tối thiểu chung chính thức tăng lên 1.300.000 đồng/tháng theo Nghị định 47/2017/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội. Do đó mức lương này thường được gọi là lương cơ sở.

lương tối thiểu 2

- Lương tối thiểu vùng (có 4 vùng trong cả nước):

Theo Nghị định 153/2016/NĐ-CPngày 14/11/2016 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì lương tối thiểu vùng áp dụng cho những đối tượng sau:

+ Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động; Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động; Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

+ Các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức và cá nhân quy định tại các khoản 2, 3 và khoản 4 Điều này sau đây gọi chung là doanh nghiệp".

Theo đó, lương tối thiểu vùng là mức lương thấp nhất theo vùng mà người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong doanh nghiệp tại vùng đó được nhận. Khác với lương cơ sở, lương tối thiểu vùng áp dụng chung cho tất cả người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong doanh nghiệp.

+ Người lao động và doanh nghiệp có thể thỏa thuận về lương nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 3 Nghị định 153/2016/NĐ-CP, áp dụng từ 1/1/2017 như sau:

+ Mức 3.750.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; Mức 3.320.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II; Mức 2.900.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III; Mức 2.580.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
Với mức lương tối thiểu vùng sẽ được điều chỉnh hàng năm sau khi họp Hội đồng tiền lương quốc gia.

Vì sao Nhà nước cần phải quy định mức tiền lương tối thiểu: 

lương tối thiểu 3

- Chính sách tiền lương nói chung luôn gồm ba nội dung:

+ Chính sách về tiền lương tối thiểu nhằm xác định mức lương thấp nhất.

+ Xây dựng các thanh lương, bảng lương, quy định cụ thể các mức lương theo công việc hay chức danh của các thang lương, bảng lương và các

loại phụ cấp, trợ cấp làm cơ sở để thỏa thuận tiền lương

+ Xác định cơ chế tiền lương (xác định quản lý tiền lương thông qua các hình thức, quy chế trả lương, tiền thưởng)

- Đối với mô hình quản lý tập trung như ở nước ta giai đoạn trước đây thì Nhà nước quy định cụ thể các nội dung của chính sách tiền lương, các doanh nghiệp phải thực hiện theo các quy định của Nhà nước,

- Đối với mô hình kinh tế thị trường thì tiền lương do thị trường quyết định theo nguyên tắc (quy luật) giá trị và cung cầu. Ở đây doanh nghiệp cần phải xây dựng chính sách tiền lương của mình tức là phải xác định mức lương thấp nhất và xác định được các mức lương cụ thể để thỏa thuận tiền lương với người lao động căn cứ vào tổ chức sản xuất, kinh doanh và tổ chức lao động của doanh nghiệp mình và thông tin về giá cả tiền công trên thị trường lao động. Vai trò của Nhà nước là chỉ gián tiếp can thiệp vào quá trình này thông qua chính sách thuế thu nhập đối với lao động có thu nhập cao, quy định mức lương tối thiểu nhằm bảo vệ người lao động yếu thế trong quá trình thương lượng, cung cấp thông tin thị trường lao động để người sử dụng lao động và người lao động làm căn cứ xác định và thỏa thuận tiền lương ghi trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể.

- Tiền lương tối thiểu luôn là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia và để bảo vệ cho hàng triệu lao động yếu thế, tổ chức lao động quốc tế đã có một số công ước và khuyến nghị về tiền lương.Một xu hướng xuất hiện những năm gần đây là ngày càng có nhiều quốc gia ban hành luật về tiền lương tối thiểu cũng như nhiều nước chính phủ quyết định vấn đề này nhằm bảo vệ người lao động. Việt Nam cũng là một trong số những thành viên của tổ chức này, cũng thuộc số đông thành viên quy định mức tiền lương tối thiểu. Mục tiêu, tiêu chí cũng như cơ chế xác định mức lương tối thiểu của chúng ta trong thời gian gần đây đang đi theo các quy định trong các công ước và khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế.

lương tối thiểu 4

- Thị trường lao động yêu cầu đáp ứng công việc đòi hỏi rất đa dạng, có công việc vị trí đòi hỏi người lao động phải qua đào tạo ở trình độ nhất định và tích lũy kinh nghiệm ở mức nào đó thì mới đáp ứng được, ngược lại có công việc giản đơn không cần đào tạo hoặc thời gian đào tạo ngắn ngắn là đáp ứng yêu cầu. Do đó sự thỏa thuận tiền lương sẽ tạo ra thang giá trị giữa các công việc với nhau có mức cao nhất và mức thấp nhất hay còn gọi là mức tối thiểu.

Đối với những công việc đòi hỏi chuyên môn và kỹ thuật cao thì người lao động hoàn toàn có vị thế để thương lượng với người sử dụng lao động, ngược lại người lao động làm công việc giản đơn thì vị thế thương lượng của người sử dụng lao động yếu hơn và kết quả thương lượng phụ thuộc rất lớn vào quan hệ cung cầu, nếu không có sự tham gia của bên thứ ba trong quá trình thương lượng thì hai bên vẫn tìm ra được mức lương thấp nhất này nhưng phần lớn là người lao động sẽ bị thua thiệt vì mức thỏa thuận khó có thể đảm bảo mức sống tối thiểu. Chính vì thế mà tổ chức đại diện hoặc Nhà nước phải đặt ra ngưỡng để hai bên thương lượng, thỏa thuận không được thấp hơn ngưỡng này nhằm bảo vệ người lao động không bị rơi vào tình trạng nghèo khó. 

- Theo những lý thuyết như trên, chúng ta có thể thấy rằng chưa thể bỏ được mức lương tối thiểu và Nhà nước vẫn có vai trò quyết định vấn đề này, còn công việc giản đơn nhất thì còn mức lương thấp nhất, nhất là nước ta đang trong giai đoạn phát triển, đang sản xuất ra những sản phẩm có giá trị sáng tạo mới không cao, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động còn thấp; năng lực thương lượng của người lao động và tổ chức đại diện còn hạn chế. 

- Vấn đề căn bản hiện tại là cần phải quy định như thế nào để bảo đảm hài hòa và làm thế nào để mở rộng đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu cho cả khu vực chưa có quan hệ lao động để bảo vệ người lao động ở cả khu vực này. 

- Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cũng như Hội đồng tiền lương quốc gia đó là nếu chúng ta phát huy được vai trò đại diện của các bên, phân tích được tác động của tiền lương tối thiểu, nghiên cứu một cách đồng bộ các tiêu chí (về nhu cầu sống tối thiểu, điều kiện kinh tế - xã hội và mặt bằng tiền công trên thị trường) quy định trong Bộ luật lao động thì chắc chắn sẽ tham mưu được cho Chính phủ quyết định được phương án tăng lương tối thiểu hài hòa hơn, vừa bảo vệ được người lao động vừa tăng thêm sự động thuận, ít đi những điều không đồng tình vì vượt quá khả năng của doanh nghiệp. 

Với những phân tích cụ thể trong bài viết trên đây, hy vọng người lao động sẽ có thêm hiểu biết về tiền lương tối thiểu để có những định hướng đúng đắn trong việc thiết lập cơ sở xác định lương, và ổn định cuộc sống.